Tịnh Tông Đồng Học Tu Hành Thủ Tắc

TỊNH TÔNG ĐỒNG HỌC TU HÀNH THỦ TẮC

Tịnh Không pháp sư kính đề

I. Tam Phước

1. Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu thập thiện nghiệp.

2. Thọ trì tam quy, cụ túc chúng giới, bất phạm oai nghi.

3. Phát Bồ-đề tâm, thâm tín nhân quả, đọc tụng đại thừa, khuyến tấn hành giả.

II. Lục Hòa

1. Kiến hòa đồng giải

2. Giới hòa đồng tu

3. Thân hòa đồng trụ

4. Khẩu hòa vô tranh

5. Ý hòa đồng duyệt

6. Lợi hòa đồng quân.

III. Tam Học

1. Giới học

2. Định học

3. Huệ học

IV. Lục Độ

1. Bố-thí

2. Trì giới

3. Nhẫn nhục

4. Tinh tấn

5. Thiền định

6. Bát-nhã

V. Thập Nguyện

1. Kính lễ chư Phật

2. Xưng tán Như-lai

3. Quảng tu cúng dường

4. Sám hối nghiệp chướng

5. Tùy hỷ công đức

6. Thỉnh chuyển pháp luân

7. Thỉnh Phật trụ thế

8. Thường tùy Phật học

9. Hằng thuận chúng sanh

10. Phổ giai hồi hướng.

 

– LUẬT YẾU TIẾT LỤC –

Quyển Trước

Khí thanh cao như sao sáng trời,
Oai nghiêm tịnh dường gió tan mây

1) Phàm phu từ vô thủy kiếp đến nay, bị màn vô minh che lấp chơn tánh, nên khởi các vọng tưởng, vin theo ngoại cảnh lục trần, lung tình nhiễm theo năm món dục ở thế gian. Đem thân khẩu ý tạo nhiều lỗi lầm, đọa lạc vào ba đường ác, luân hồi trong sáu nẻo, không mong có ngày được ra khỏi.

2) Sa-di lúc mới phát tâm xuất gia, vâng giữ 10 giới, siêng năng sách tấn tu hành, đoạn trừ phiền não hoặc-tập để mà cầu chứng được Niết-bàn diệu quả.

3) Giới là răn cấm, Luật là phép tắc. Phòng ngừa điều quấy, ngăn dứt điều ác nên nói là giới. Xử đoán nặng nhẹ, lúc nào nên khai duyên hay cấm chỉ mà khéo giữ cho đúng là trì hay phạm nên nói là luật.

4) 10 giới xác thật là thềm thang để vượt xuất thế gian, là cánh cửa đi vào Niết-bàn vậy.

5) Do bệnh của chúng sanh chẳng phải một, nên phương thuốc được chia ra thành nhiều toa.

6) Luật chế tỳ-kheo, năm hạ về trước ròng chuyên rành về giới luật. Cần phải hiểu rỏ thế nào là trì, phạm, biện rỏ việc của tỳ-kheo rồi thì về sau mới được phép học tập kinh luận. Người thời nay học hỏi bỏ qua thứ lớp, nên chỗ hành trì đã mất đi thứ tự thì không do đâu mà được nhập đạo.

7) Khinh giới chính là toàn tự khinh mình; hủy bỏ luật lại trở thành chính tự hủy mình vậy. Ôi! tình vọng dễ quen huân tập, cái tột cùng của đạo khó nghe, những bực tột chứng siêu quần trong vạn người khó có một.

8) Kẻ ngu không có con mắt huệ, chẳng biết rõ phải quấy, cuồng vọng tà kiến cố chấp, chẳng biết tuân theo thứ lớp mà học.

9) Phật tạng kinh nói: “trước chẳng chịu học tiểu thừa, sau rồi mới học đại thừa, như vậy chẳng phải là đệ tử Phật.”

10) Giới chính là phao nổi để vượt qua biển khổ, là chuỗi anh lạc để trang nghiêm pháp thân, cho nên cần phải cẩn thận, chớ để có chổ tơ hào khuyết phạm.

11) Vân Nhất luật sư nói: “Phật pháp ba đời đều lấy giới làm căn bản. Cái gốc mà không chịu tu thì cách đạo càng xa vời lắm vậy.”

12) Kinh Dịch nói: “đức của thánh nhân sánh bằng trời đất, sáng bằng nhựt nguyệt, biết thời tiết bốn mùa, cùng quỷ thần biết sự kiết hung. Đây là những bậc thánh ở thế gian.

13) Thánh nhân xuất thế gian tuy không nghe tiếng nói nhưng hiểu biết tâm niệm chúng hữu tình trong chín cõi, thấu lý chơn đế rõ các cơ đức sánh bằng pháp giới. cùng hai trí (căn bản trí & hậu đắc trí) sáng hiệp nhau, cùng thời biết bốn cơ (nhơn thiên, nhị thừa, bồ-tát & Phật) hiệp nhau, tối sáng cùng các thánh hiệp nhau.

14) Luật rằng: “nên nhớ nghĩ chỗ xuất thân cùng ân đức của thầy bạn mà tinh tiến hành đạo, hầu mong độ thoát mẹ cha.”

15) Bọ bay máy cựa, côn trùng nhỏ nhít, bẩm thụ đầy đủ sắc thân tâm tánh, đồng một nguồn giác, tham sanh úy tử, đau thương vui khổ cùng với loài người chẳng khác. Đã đồng một nguồn giác tức vị lai cũng đều là chư Phật.

16) Sáu căn sáu thức, nương nhau tương tục sanh khởi nên viết là mạng. Một khi tướng tương tục này đoạn dứt thì liền nói là chết.

17) Trong ba nghiệp (thân, khẩu, ý) thì tâm là chủ tể, nên khi kết tội có nhẹ có nặng là do tâm đối cảnh không đồng mà ra.

18) Kinh nói: “không được thiêu đốt núi rừng vì tổn hại đến chúng sanh; moi móc hồ ao ngăn ngòi lấp rạch sẽ khiến tàn hại các loài thủy tánh.”

19) Đạo lý từ bi chính là con đường lớn lợi ích chúng sanh của bồ-tát. Từ hay khiến cho vui, bi hay dứt trừ khổ não.

20) Kinh nói: “Ra ơn giúp ngặt, khiến họ được an, bằng thấy kẻ khác giết hại, phải khởi lòng từ thương xót.”

21) Hết thảy chúng sanh đối với hai thứ tài, pháp, đa phần đều có chỗ thiếu thốn. Nên thấy chúng sanh khởi lòng tham lam lận tiếc, phá giới, sân giận, lười biếng, tán loạn, ngu si làm chướng ngại phải nên vì họ giảng nói bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ mà tế độ cho họ. Đem tài vật mà bố thí hay khiến cho thân được yên ổn, đem pháp lành bố thí hay khiến cho tâm được yên ổn.

22) Kệ rằng: “Đem tâm từ bố thí cứu giúp cho một người công đức lớn như đại địa. Vì ích kỷ riêng mình thì dầu bố thí cho tất cả được quả báo chỉ như hạt cải. Lại cứu giúp cho một người đang gặp ách nạn, lại trội hơn bố thí cho tất cả người khác.”

23) (Nếu mình vô tài lực) Thấy người khác sát sanh nên sanh lòng từ mẫn, thương cho kẻ đang sát sanh kia, tội khổ ắt sẽ đọa vào ba đường ác. Còn kẻ đương bị giết kia ắt đau đớn tột cùng. Ôi! nghiệp báo oan gia đã kết chặt đời này, sự báo thù trả vay, vay trả biết đến đời nào mới dứt. Quán xét như thế rồi ta liền phát nguyệnt: “Nguyện ta tu hành mau đắc được bồ-đề, thệ độ muôn loài thảy đều được giải thoát.”

24) Tội sát sanh khổ báo không lường, mà chịu tội khổ ấy biết khiếp nào mới hết. Ôi thật thảm thương.

25) Phật nói sát sanh có 10 tội:

i. Thường chứa độc trong tâm, đời đời không dứt.

ii. Người đời chán ghét, mắt chẳng muốn nhìn.

iii. Thâm thường niệm ác và nghĩ những việc ác.

iv. Chúng sanh thấy được sợ hãi như sợ hổ báo rắn rết

v. Khi ngủ hay giựt mình, lúc thức tâm chẳng được yên.

vi. Thường mơ thấy ác mộng,

vii. Khi mạng chung thường chết một cách ghê gớm

viii. Gây nghiệp nhơn chết yểu về đời sau

ix. Thân vừa hoại mạng chung liền đọa vào địa ngục

x. (Nếu tội trong địa ngục hết rồi) được sanh trở lại làm người thì thường chết yểu.

26) Những vật quý trọng như vàng bạc cho đến vật nhỏ như cây kim ngọn cỏ, người ta không cho thì mình chẳng được phép lấy.

27) Hoa Tụ bồ-tát nói: “tội ngũ nghịch và tội tứ trọng ta còn có thể cứu được, còn tội trộm lấy vật của chúng Tăng thì ta không thể cứu được.”

28) Từ trước nói lấy vật của thường trụ cho đến đây nói trốn thuế, dối đò v.v… phàm có lén lấy, đều liệt vào tội danh trộm cắp, tội này không thể sám hối.

29) Người xưa có câu: “Người không tốt không làm bạn, của phi nghĩa không lấy, của phi tài hại mình, lời nói ác hại người.” Ôi! kẻ thế Nho còn vậy, huống trang thích-tử coi vàng ngọc như sành sỏi, mà chẳng bằng hay sao!?

30) Kinh Lục Độ Tập rằng: hồi đời trước đức Phật còn làm người nghèo, ngài nói rằng: “ta thà giữ đạo nghèo hèn mà chết, chớ chẳng làm người vô đạo, giàu sang mà sống.”

31) Kinh Tăng Nhất A Hàm nói: Phật dạy các tỳ-kheo: “nếu ai trộm cắp vật của người ta, sau khi mạng chung, sanh trong địa-ngục lửa dữ thiêu thân, nước đồng sôi rót vào miệng, hoặc trụng chảo dầu, quang vào lò lửa, gươm dao đâm lụi, hấp nóng, bỏ chỗ dơ thối, cối xay nghiền nát, cối giã đâm nhừ. chịu đủ thức chua chát đau nhức không thể kể xiết. Chịu tội ở địa-ngục xong, kế sanh làm loài súc sanh trải qua trăm nghìn năm ra sức để đền bù nợ cho người.

32) Kinh Lăng Nghiêm nói: “bằng như các thế giới, chúng sanh trong sáu đường, tâm không dâm thì không dính líu theo dòng sanh tử, tâm dâm chẳng trừ thì trần lao không thể nào ra khỏi. Cho nên phải đoạn trừ động cơ dâm, cho đến thân và tâm chỗ đoạn cũng không, thì quả Phật bồ-đề mới mong khá được.”

33) Bồ-tát giữ giới-trọng cũng như giới-khinh luôn luôn kiên cố và kính trọng, không hề khác biệt. Bồ-tát còn như thế, huống chi bực thanh-văn mong thoát khỏi sanh tử.

34) Kinh Thập Giới nói: ” tuy dâm lung mà sống, chẳng bằng như trong sạch mà chết.”

35) Lời nói, hạnh làm tuy lành, nhưng không có thật tâm cũng chẳng phải là môn đồ của Thánh-nhơn vậy.

36) Bài ca lời tình đều là thứ khêu gợi lòng ái dục, làm tăng trưởng niềm bi ai cho người, (bài ca) khiến người nghe xiêu cảm lòng người, (lời tình) hay rù quyến tình dục cho người, làm thay đổi tánh thường của người, xao động tâm chí người, làm mất chánh niệm của người.

37) Miệng thốt những lời thô ác bất thiện, mạ nhục hủy báng người ta. Lửa sân một phen nổi lên, phừng miệng, đốt lòng, hại người trước mặt đau đớn như dao cắt, thật trái niệm từ của bồ-tát, cũng sát tâm lành kẻ xuất gia.

38) Thành Thật Luận nói: “lòng lành dạy bảo, tuy họ biệt ly, nhưng mình không mắc tội. Bằng đem lòng ác, xúi người đánh lộn, tức là hai lưỡi, mắc tội rất nặng đoạn trong ba đường ác, đời đời mắc quả bà con hung dữ và phá hoại gia đình. Là vì đời nay ta phá hoại gia đình bà con người nên mắc phải quả báo biệt ly.

39) Kinh Báo Ân, Phật bảo A-nan: “người sanh trong đời, họa từ miệng mà ra, phải gìn nơi miệng lắm hơn lửa dữ, vì lửa dữ bừng cháy đốt của thế gian, miệng dữ bừng cháy đốt “thất thánh tài.” (1. Chánh tín, 2.tinh tấn, 3. giữ giới, . biết hổ thẹn, 5. Ưa nghe Phật pháp và dứt trừ phiền não, 6. thiền định, 7. Trí huệ).

40) Khổng tử nói: “dấu sự tốt của người, gọi rằng che lấp người hiền, bày cái xấu của người ấy là đứa tiểu nhân.” Thái Công nói: “muốn so lường người ta, trước phải so mình, lời nói hại người, trở lại hại mình, ngậm máu phu người, miệng mình dơ trước.”

41) Kinh Vị Tằng Hữu nói: “vọng ngữ có hai. 1.- nặng & 2. nhẹ. Vì cớ muốn người cúng dường cho nên ngoài hiện hạnh tinh tấn, trong tâm làm việc tà trược, nói vọng với người rằng: ta đặng cảnh giới thiền định! hoặc nói thấy Phật, thấy trời, rồng, quỷ thần v.v… gọi là đại vọng ngữ. đọa vào A-tỳ địa ngục. Lại có người nói vọng, hay khiến chết người, phá hoại nhà người, hoặc trái lời kỳ hẹn, khiến người buồn giận, gọi là vọng ngữ bực hạ, đọa địa ngục nhỏ. Còn bao nhiều những việc nói chơi giỡn cười và như những việc lý đáng giấu, sự đáng cấm, có nói không, không nói có, – không phạm.

42) Còn các lời nói vọng vì cứu người nạn phương tiện chước khéo, từ bi lợi giúp ấy, – không phạm.

43) Tư Mã Ông là người hiếu thuận, trung tín, cung kiệm, chánh trực từ bé đến già chưa từng nói vọng ; cho nên ông thường nói: “đạo chí thành rất khó vào, song phải tự chẳng nói vọng làm trước.”

44) Kinh chép sự tích, “một Sa-di khinh cười một thầy tỳ-kheo già đọc kinh tiếng như chó sủa, mà tỳ-kheo già đó, là bực A-la-hán nhơn dạy ông Sa-di mau sám hối, xảy khỏi địa ngục, nhưng còn đọa làm thân chó.” Ôi! một lời nói dữ, mắc hại đến thế!

45) Kinh nói: “luận kẻ ở đời, búa ở trong miệng, sở dĩ chém mình là do lời nói ác.” Việc đáng chê lại khen, đáng khen lại chê, tự mình chuốc lấy sự khổ, quyết không có vui!

46) Luận Địa Trì nói: “tội vọng ngữ làm cho chúng sanh đọa ba đường ác, bằng sanh trong loài người, mắc hai món quả báo: 1.- hay bị người chê bai ; 2.- bị người lường gạt.

47) Phật nói: nếu ai y ta làm thầy, thì không được uống rượu và đừng cho người uống, đừng chứa để, cho đến không được lấy ngọn cỏ nhúng rượu rồi nhỏ vào trong miệng. trừ phi có bệnh nặng, lương y bảo phải lấy rượu làm thuốc, thời tạm quyền mở cho, chớ không phải ăn uống hoài hũy. Nếu không bệnh giả bệnh, bệnh nhẹ giả bệnh nặng, đều phạm.

48) Xưa có ông Ưu-bà-tắc nhơn phá giới rượu si mê bèn phá luôn các giới khá. Trong 36 lỗi, một phen uống rượu đủ hết, lỗi chẳng phải nhỏ vậy.

49) Kinh Tát-chi-ni-càn-tử nói: “rượu là gốc buông lung, muốn khỏi đường ác, đừng uống, thả bỏ trăm nghìn thân, chớ hủy phạm giới pháp. Thà khiến thân héo khô, trọn không uống rượu này, dầu cho tội hủy giới mạng sống đủ trăm năm, chẳng bằng giữ giới cấm, tức thời thân tiêu diệt.”

50) Kinh Phạm Võng nói: không mặc đồ tơ lụa hàng nhiễu phương Đông, và mang giầy, dép, cáo cừu, áo yết, cùng ăn vị “nhũ lạc đề hồ” này vậy. Tỳ-kheo như thế mới là chơn giải thoát, đối với đời khỏi nợ trước đền bù, mà phải trở lại tam-giới.

51) (Mặc áo thô) Chỉ vì dứt tâm mong cầu và đoạn niệm buông lung, ngõ hầu tấn tu đạo niệm.

52) Kẻ thiền giảng đời bây giờ nói mình là bực đại thừa không chấp sự tướng, lụa, the đua tốt, tranh tươi, tím tía, sanh đỏ giành màu, buông lung tình tham, thảy đều trái lời Phật dạy. Đâu chẳng nghe ông “Hoành Nhạc” mặc áo bàng cỏ ngại, đỡ gió sương. Ngài Thiên Thai 40 năm chỉ mặc một áo nạp. Ngài Vĩnh Gia không mặc áo miệng tầm. ông Kinh Khê mặc tấm áo vãi to. Bởi vì các ngài đây là người thâm hiểu lý đại-thừa, mới chuyên tu khổ hạnh như thế. Xin hãy xem chư vị Tổ đức mà chớ nhiễm thói tà. Vưng theo lời đức Phật để tu thân, xứng đáng trang Phật-tử vậy.

53) Xưa có vị Cao Tăng 30 năm mang một đôi giày, huống chúng phàm ư!?

54) Như Kinh đã nói: ngửi hoa còn có điểm bị Thần trách, huống chi mũi ngửi, thân thoa nhơ đức, khá chẳng răn dè ư!?

55) Xưa có ông tiên nhân nghe người nữ ca hát, âm thanh vi diệu liều mất thần túc, xem nghe còn mắc hại đến thế, huống tự mình làm ư!?

56) Kinh Pháp Hoa nói: hoặc cho người nổi nhạc đánh trống, thổi ốc, ống tiêu, ống địch, đờn không hầu, đờn tỳ-bà, cái náo, cái đồng bạt, các tiếng hay như vậy đều đem cúng dường các đức Phật, hoặc đem tâm hoan hỷ, ca vịnh khen công đức của đức Phật, nhẫn đến một tiếng nhỏ cũng được thành Phật. huống chi kinh nói: “cho người khác (cư sĩ) làm, rõ là không phải thầy sa-môn tự làm vậy” Kinh lại nói: “đem cúng dường đức Phật, rõ là không phải để tự vui cho mình” vậy.

57) Những chùa làm đạo tràng pháp sự của nhân gian họa may còn làm được. Nay ta vì đường sanh tử, bỏ tục xuất gia, đâu nên chẳng tu việc chính mà cầu học nghề âm nhạc cho hay.

58) Người có trí biết tiếng kia sanh diệt, trước chẳng chờ sau, sau chẳng kịp trước, thì dầu có tướng cũng như không tướng. Quan sát được như thế, thời mới khỏi đắm mê, những người như thế, dù âm nhạc chư Thiên, cũng chẳng loạn cho họ được huống chi tiếng của nhân loại.

59) Người xưa dùng cỏ làm đồ ngồi, đêm thì nằm dưới gốc cây. Nay ta có giường chõng cũng đã hơn xưa rồi, sao còn muốn công rộng buông lung vóc huyễn!?

60) Ngài Hiếp Tôn giả, một đời lưng chẳng đặt xuống chiếu. Tổ Cao Phong Diệu thiền sư nguyện đứng 3 năm chẳng nương giường chõng. Ngài Ngộ Đạt thọ tòa trầm hương còn tổn phước mà chiêu lấy quả báo. Than ôi! khá chẳng răn dè lắm ư!?

61) Thiền là tâm Phật, Luật là hạnh Phật. Đại-thừa, tiểu-thừa đồng học hết thảy. Có đâu tỏ ngộ tâm của Phật-tổ mà chê hạnh của Phật-tổ?

62) Giới luật phế bỏ đã lâu, nhất thời khó đem cải chánh trở lại, cho nên cổ đức quyền khai, chung đồ kỳ phục bổn dã!

63) Không nên chấp theo quyền-pháp mà bỏ thật-pháp, lấy đó làm phét tắc thường hoài. Y pháp chẳng y người mới phải là Phật-tử chánh kiến.

64) Kinh Xứ Xứ nói: Phật dạy sau giờ ngọ không ăn có năm việc phước (1) ít dâm, (2) ít ngủ, (3) được nhất tâm, (4) ít hạ phong, (5) thân được yên ổn lại chẳng sanh bệnh.

65) Thường phải quán sát thân này là gốc sanh, già, bệnh, chết. là nguồn các khổ, tự phải thâm trách, ngăn tình dục, sao lại buông lung ái căn kia, để tự tăng thêm gốc khổ cho mình!

66) Giới luật đều cần như chim hai cánh, bay liệng trời xanh gió Phò Diêu ở dưới muôn dặm, đâu không khoái ư!? Thoảng một phen vọng sanh tâm tà giải liền mắc vào cái chấp ngoan không, chê nhân-quả, tác tội tại tâm để rồi chung thân chịu khổ lụy.

67) Kẻ ăn “phải thời” tức là ruộng phước, tức là người xuất gia, tức là bạn lành của trời người, tức là vị Đạo sư cả cõi nhơn thiên.

68) Vàng bạc bảy báu đều làm tăng trưởng tâm tham ái của người, cho nên hư hại đạo nghiệp tu hành; tham là căn của ngạ-quỷ. Ái là gốc sanh-tử. Đức Như-lai ra đời vốn vì đoạn tuyệnt nguồn gốc sanh tử của chúng sanh, nên dạy xa lìa lợi đời, áo cơm, phòng nhà đã nhờ người thí chủ, cho nên chứa để vàng bạc cũng thành chỗ vô dụng.

69) Người đời nay, chẳng hay đều đi khất thực hoặc phải phương xa, khó tránh khỏi việc hao phí tiền bạc. Cố nhiên như vậy, nhưng phải biết trái lời Phật dạy, sanh tâm rất hổ thẹn. Nghĩ thương người nghèo khó, thường làm việc bố-thí. Không tham cầu, chẳng chất chứa, chẳng buôn bán và không dùng bảy báu để trang nghiêm y phục, khí cụ các vật v.v… họa may còn được được.

70) Kinh Thập Giới nói: “chớ nên chất chứa của báu nhơ, người cho không thọ, thọ thời đừng để, đem giúp người nghèo ngặt, và thường vì người nói đức bất-tham.” Bộ Nghiệp Sớ nói: nếu đem tâm tà và tham nhiễm ham lợi bán Pháp, lễ Phật, tụng Kinh, nhịn ăn, v.v… chỗ có được của cải đều là của bất chính để nuôi mạng sống. Thảy đều chỉ là làm tăng trưởng gốc tham ái, tạo thành cái nghiệp lậu hoặc luân hồi vậy.

71) Phật bảo các tỳ-kheo: nếu ta không giữ giới, sẽ đọa trong ba đường ác, còn chẳng được làm thân người hạ tiện. Huống chi giáo hóa thành thục chúng sanh, và gầy dựng nên cõi nước thanh tịnh của Phật, đầy đủ nhất thiết chủng trí.

 

– LUẬT YẾU TIẾT LỤC –

Quyển Sau
Trong tâm chứa đức sư tử,
Ngoài thân hiện oai tượng vương.

1) Kinh Hoa Nghiêm nói: giữ gìn trọn đủ phép dạy oai nghi, hay khiến ngôi Tam-bảo chẳng đoạn, phải vậy.

2) Đời mạt-pháp tình người hay sanh tâm biếng nhác, cho nên nghe nhiều thời sanh tâm chán nản, vì thế nên bớt bỏ văn nhiều mà dùng câu tóm gọn cho dễ người học và đọc.

3) Tạp A-hàm kinh nói: “Phật bảo các tỳ-kheo, nên giữ lòng cung kính, thường nhiếp buộc tâm, thường thận trọng kinh sợ. nếu không cung kính, chẳng nhiếp buộc tâm, chẳng thận trọng lo sợ, mà muốn làm cho oai nghi được đầy đủ quyết không thể được. Không đủ oai nghi, muốn cho học pháp được viên mãn quyết không thể được. Học pháp chẳng viên mãn mà muốn khiến cho ngũ phần pháp thân được đầy đủ quyết không thể được. ngũ phần pháp thân chẳng đầy đủ mà muốn đạt đến vô dư Niết-bàn quyết không thể được.

4) Trong Đại Luật dạy: phàm người xuất gia, chỗ có nói năng đều phải nói lời có lợi ích, chẳng nên riêng giận và bàn luận việc người. Trong Luận nói: bằng đến nhà thế gian, nói tội lỗi của tỳ-kheo thời người thế gian kia, đối trong phật-pháp, đã không tâm tín kính lại còn gây tội hủy báng thêm gốc khổ cho họ. Nếu ta nói tội lỗi thật ra lại là làm hư mất pháp thân của ta vậy.

5) Luật dạy: “đệ tử gặp hòa-thượng nên đầy đủ bốn tâm: (1) thân ái ; (2) kính thuận ; (3) úy nan (sợ khó) ; (4) tôn trọng. Phải khéo phụng dưỡng và tiếp nhận sự truyền thừa khiến cho chánh pháp được cửu trụ, lợi ích càng được tăng trưởng rộng lớn.

6) Thiên Thành Phạm nói: sa-di ở với Thầy thường có tâm kỉnh sợ, thuận theo ý thầy, thường biết xấu hổ lo đền 4 ân, cứu giúp 3 cõi.

7) Thầy là người làm khuôn mẫu dạy chúng sanh trong 3 cõi, thế Phật diễn nói chánh pháp, sanh giới thân cho ta, nuôi huệ mạng cho ta, nên ta phải kính trọng coi cũng như Phật.

8) Thầy tọa thiền chẳng lên làm lễ, thầy kinh hành chẳng nên làm lễ, thầy ăn cơm, thầy thuyết kinh, thầy đánh răng, thầy tắm rửa, thầy ngủ nghỉ, v.v… đều không nên làm lễ. Thầy đóng cửa chẳng nên làm lễ ngoài cửa. Muốn vào cửa lễ lạy, nên khảy móng tay ba lần (gõ nhẹ lên cửa 3 lần khiến cho thầy biết). Thầy không ưng thuận thì nên đi.

9) Hầu thầy chẳng được đứng trước mặt, chẳng được đứng chỗ cao, chẳng đặng quá xa, phải đứng sao để thầy nói nhỏ mình nghe được khỏi phí sức thầy.

10) Bằng thưa hỏi câu chuyện Phật pháp, nên y áo chỉnh tề lễ bái, quỳ gối chắp tay mà thưa hỏi. Thầy có lời dạy bảo thì phải lắng lòng nghe kỹ, in sâu vào óc.

11) Vì vọng niệm chẳng khởi nên gọi là lắng lòng. Vì lóng nghe nên gọi là văn-huệ. Vì nhớ nghĩ tư duy nên gọi là tư-huệ, vì in sâu vào óc gọi là tu-huệ. Song nghe có 3 bực: (1) lấy thần mà nghe gọi là bực thượng; (2) lấy tâm mà nghe gọi là bực trung; (3) lấy tai mà nghe gọi là bực hạ.

12) Ngũ Thập Tụng Luật nói: làm đệ tử thường mến mộ đức của thầy chớ nên xoi bới lỗi nhỏ. Có tâm tùy thuận theo thầy thì được thành công, còn chăm nhìn vào lỗi thầy thì tự mình tổn phước. Chỉ Quán nói: “cầu thầy chẳng phải ở nơi tận thiện tận mỹ, hầu thấy tất phải biết quên đi cái lỗi của thầy.”

13) Bồ-tát Tùng Đẩu-Suất Hạ Sanh Kinh nói: người làm thị giả hầu thầy cần có đủ tám pháp: (1) Tín căn kiên cố ; (2) Kỳ tâm mịch tiến (có tâm tìm học, cầu tiến) ; (3) Thân không các bệnh ; (4) Tinh tấn (5) Cụ niệm tâm (đủ tâm thương thầy) (6) Tâm không kiêu mạn ; (7) Năng thành định ý (tâm bình tĩnh và quyết định) ; (8) Cụ túc văn trí (đầy đủ trí nghe).

14) Phàm đệ tử phải lựa bậc minh sư gần gũi cho lâu, chớ nên lìa thầy quá sớm. Bằng thầy thật sự không thông hiểu Phật-pháp, thì nên riêng cầu bậc lương đạo.

15) Đạt-thẩu-noa là phạm ngữ, xứ này dịch là thí. Thí pháp thời gọi là Pháp-thí, thí tài thời gọi là Tài-thí. Người tại gia thực hành tài-thí, kẻ xuất gia thực hành pháp-thí. Kinh Nhứt Lãm nói: tài-pháp nhị thí đầy đủ thì thành tựu, phước huệ lưỡng toàn mới có thể làm Phật.

16) Phàm nghe tiếng chuông chắp tay thầm tưởng bài kệ rằng: “nghe tiếng chuông, phiền não nhẹ trí huệ trưởng, bồ-đề sanh. Lìa địa-ngục, vượt hầm lửa, cầu thành Phật độ chúng sanh.” – Án già ra đế da ta bà-ha (3 lần).

17) Tạp Dụ Kinh nói: “Văn chung ngọa bất khởi, hộ pháp thiện thần sân, hiện tại duyên quả bạc, lai báo thọ xà thân. Sở tại văn chung thinh, ngọa giả tất tu khởi, hiệp chưởng phát thiện tâm, hiền thánh giai hoan hỷ”. Nghĩa rằng “nghe tiếng chuông nằm chẳng dậy, vị hộ pháp và thiện thần giận, đương đời phước quả ít, mắc báo sau này làm thân rắn. Cho nên khi ta nghe tiếng chuông, ai còn nằm cũng phải ngồi dậy, chắp tay phát tâm lành, hiền thánh đều hoan hỷ”.

18) Người hiền có ba điều sợ: thầy tà, bạn xấu và ác thuật, bởi vì nó hay ngăn chánh đạo, dẫn đi đường tà. Sớm biết thì được lành thiện, bằng không biết phản tỉnh, thì khi sống không chút lợi ích, chết đi phải chịu khổ dài dài.

19) Chẳng được ngồi nhìn đại chúng làm việc nặng nhọc mà mình tránh nhác trộm yên. Ngồi nhìn là người không biết hỗ thẹn, mà biếng nhác thì tổn phước. Kinh Thập Giới nói: “phẩi tận sức làm các việc của chúng Tăng”.

20) Chẳng được lấy riêng của Chiêu-đề (của Thường Trụ) như tre, cây, hoa quả, rau trái, tất cả đồ ăn uống cùng hết thảy đồ vật, v.v…

21) Chẳng được đàm luận việc được mất thuộc triều đình công phủ, chính trị và những việc hay dỡ tốt xấu của người thế gian. Kinh Thập Giới nói: “chẳng được luận nói chuyện quốc gia chánh sự, luận bàn việc hay dỡ, việc xuất trận hành binh, cùng đánh dẹp hơn thua” phải vậy.

22) Chẳng được nhân việc nhỏ mà tranh chấp, nếu gặp việc lớn khó nhẫn cũng phải tâm bình khí hòa, dùng lý lẽ để biện luận, không được thì từ mà đi, nổi giận nói lời thô, tức không phải là tăng sĩ tốt.

23) Trong Đại Luật nói: “người không tu nhẫn nhục có năm điều lỗi: 1.- hung ác càng thêm; 2.- Việc rồi hối hận; 3.- Nhiều người không ưa; 4.- Tiếng dữ đồn khắp; 5.- Chết rồi đọa đường ác.

24) Trong Tứ Phần Luật, Phật dạy tỳ-kheo khi ăn, nên cúng thí đồ ăn cho người chẳng phải người (hàng phi nhân), nhẫn đến một nắm cũng được, tùy chỗ thành tâm.

25) Phàm cơm xuất sanh nên để trong lòng bàn tay trái, tưởng niệm kệ rằng: “Nhữ đẳng quỷ thần chúng, ngã kim thí nhữ cúng, thử thực biến thập phương, nhất thiết quỷ thần cộng”. Nghĩa rằng các ngươi chúng quỷ thần, ta nay cúng thí cho người, cơm này khắp đủ mười phương, tất cả chúng quỷ thần.

26) Phàm khi ăn phải làm năm phép quán: Một là xét kể công lao nhiều ít so với chỗ người mang đến, nếu ta không tu hành, một hột gạo cũng khó tiêu. Hai là xét đức hạnh mình đủ hay thiếu mà thọ nhận người cúng dường, nếu không giữ giới, ngồi thiền, tụng kinh, làm sáng việc Tam-bảo, thì đức kém, hạnh thiếu, không đáng thọ nhận người cúng dường, nếu thọ thì bị của thí đó làm cho ta phải sa đọa. Ba là ngăn tâm khỏi lỗi, mà tham sân là gốc. Kinh Luận Di Lặc Sở Vấn nói: “tất cả tâm hành ác, đều từ tham, sân, si sanh khởi. Bốn là chính như thuốc hay, chữa trị thân hình khô gầy. Nếu thấy được ăn uống, phải tưởng như là uống thuốc. Năm là vì thành đạo nghiệp, nên thọ thức ăn này. Nếu không vì đạo thì một hột gạo cũng khó tiêu.

27) Bộ Ma Đức Lặc Già Luận nói: “nếu khi được ăn uống, mỗi miếng nên niệm thầm rằng: muỗng thứ nhất nguyện dứt tất cả việc ác. Muỗng thứ hai nguyện tu tất cả việc lành. Muỗn thứ ba chỗ tu các việc lành, nguyện hồi hướng cho tất cả chúng sanh, đều đồng thành Phật.”

28) Người xưa (như vua Vũ) nghe được lời lành liền bái tạ, (thầy Tử Lộ) nghe người chỉ lỗi cho thì vui mừng, đó là khí tượng của bậc thánh hiền, sao ta không bắt chước?

29) Trong kinh Thập Giới nói: “phàm nghe pháp tưởng như đói được ăn, như khát được uống, tất bóng (thời gian) không bỏ, chẳng cảm thấy chán khi nghe nhiều mới gọi là Phật tử.

30) Ba món huệ là Văn, Tư và Tu (nghe, suy gẫm và tu tập), thiếu một cái cũng không thể được. Nếu nghe mà không suy gẫm, như người cày ruộng xong mà không gieo giống. Suy gẫm mà không tu, cũng như có gieo giống, nhưng không tưới nước và làm cỏ, cuối cùng không kết thành hạt. Nếu ba món huệ này được kiến lập, thì quả Tam-thừa quyết có thể được vậy.

31) Kinh Pháp Luật Tam-muội nói: (1) Học mà không biết được quyền hay chước khéo, khinh dễ thầy bạn, không có nhứt tâm, thời ý hay dời đổi. (2) Học văn chảy chuốt mà không có thực hành, chỉ tham danh dự, trông mong được người kính trọng. (3) Học chỗ hầu thầy, chẳng siêng năng chịu khó, vừa được chút thành tựu, liền hư trương cống cao. (4) Ưa thích học sách ngoại đạo, lại đem những dị thuật để sánh với lời kinh sâu mầu của đức Phật, nói rằng đạo đạo đều ngang nhau. Những ác kiến như thế còn vượt hơn là thuốc độc, tất có hại cho “pháp thân huệ-mạng” vậy.

32) Người xưa nói: việc học của người quân tử vào lỗ tai, để trong lòng, bủa khắp “tứ-chi” bày theo khi động tịnh. Còn việc học của kẻ tiểu-nhân thì vừa vào tai liền tuôn ra miệng, ở trong phạm vi của tai miệng chừng bốn tấc thôi, đâu đủ lành cho cái thân cao đến bảy thước!?

33) Giới lực giữ chưa được vững chắc, phải trở lại học luật, chớ nên sớm tới trường giảng kinh, luận. Giữ giới chưa vững thời tâm chí không định, gót chân chưa vững tất bị phong trần dồn dập xuống lên. Tánh tướng hai tông, làm sao thông hiểu được? Chẳng phải bỏ đây thích kia, tức cũng bài bác không nhân không quả, chê bai lẫn nhau, đến nỗi chuốc lấy tội nặng vô-gián, nên không thể không kiên dè đó ư!

34) Trong Ngũ Khổ Chương Cú Kinh, Phật dạy: bực thiện tri thức muốn dạy kẻ mới học, nên thong thả từ từ, giảng dạy các việc ma cho họ biết nhơn duyên của ma để giữ gìn. Tội khổ trong đường sanh tử, năm đường phân rành, khiến họ tin có tội phước, mọi sự được làu thông rồi, bây giờ mới có thể nói việc đạo.

35) Luận người học phải y lời Phật dạy, chẳng được bỏ thứ lớp mà học, cho nên trước học luật, sau học kinh, như thợ mộc có dây mực, quy củ nắm chắc trong tay. Trước học kinh sau học luật như thợ mộc thiếu dây mực, thời kiểu mẫu vuông tròn ắt là sái phép.

36) Trong Đại Luật – Phật dạy có hai phép học: (1) tụng kinh và hiểu nghĩa. (2) tham thiền và quán tưởng. Thiền là để lắng vọng hiển chơn, giải là để khái phát diệu huệ. Kinh Bát Nhã nói: (1) học tham thiền để khai mở trí tuệ. (2) học kinh để làm rộng thêm trí tuệ.

37) Bực cổ đức nói: người mà biết nhiều thì việc nhiều, chẳng bằng dứt ý. Lo nhiều thì tổn thất nhiều, chẳng bằng chuyên nhất. Lo nhiều thì chí tán, biết nhiều thì tâm loạn. Tâm loạn thì phiền não sanh, chí tán thì ngăn ngại đạo.

38) Hoặc có vị đàn-việt tín tâm đến thỉnh Tăng, muốn cầu phước để cho kẻ còn người mất được lợi ích, thì Phật cũng bảo một vị tỳ-kheo đến thuyết kệ và chú nguyện, cho đến tụng chừng một quyển kinh cũng đủ lợi ích cho người thí chủ.

39) Sách Nho nói: trời thì có tai hoạn khá cầu, người thì có họa phước khá chuyển. Sở dĩ làm lành thì trời ban xuống trăm phước, làm chẳng lành thì trời gieo xuống cho trăm họa. Người xưa nói: một niệm lành thì khí hòa gió tốt, một niệm ác thì quỷ dữ yêu tinh. Xét xưa nghiệm nay, cũng đủ làm chắc thật.

40) Giàu sang nghèo hèn, tốt xấu được mất đều do đời trước tự mình gây tạo nghiệp nhân thiện ác, cho nên đến đời này được báo đáp. Tóm lại, y báo, chánh báo thọ quả chẳng đồng, chung quy vẫn tự mình tự gây tạo thiện ác. Nếu có thể dời đổi cố nhiên chẳng phải chỗ khả năng của con người vậy.

41) Trong Đại Quán Đảnh Kinh, Phật nói: sau khi ta diệt độ 1000 năm, có số tỳ-kheo thích học tập binh pháp, gần gũi quốc vương, cùng các vương tử, phụ tướng lương dân để rồi hủy diệt pháp của ta. Do vậy về sau, thường gặp ác tâm, đoạn diệt pháp ta, tháp tượng bị hủy hoại, do không có thần nghiệm, thiện thần không còn ủng hộ, nên khiến cho bị hủy hoại, không người phòng hộ ngăn chế. Pháp của ta đã biến hóa, vì vậy mà dần dần tiêu diệt.”

42) Kinh Thập Giới nói: chẳng được ngước xem lịch số, coi tướng giàu nghèo, nào nhựt thực, nguyệt thực, các sao dời đổi, núi lở, đất động, gió mưa, nắng lụt, năm được mùa và năm mất mùa, trong năm có tai dịch hay không tai dịch, v.v… các việc như trên quyết không nên học.

43) Họa phước định số đều bởi nhân đời trước. Nhân trước tuy đã định nhưng làm lành cũng có thể diệt được cái tội xưa. Làm ác quyết tổn phước lành của mình. Làm lành có thể bù lại cái quấy trước. Cho nên người đời có câu: cảnh cuộc đời người chẳng phải không, toàn nhờ âm chất giúp mới xong. Giàu sang bằng theo địa-lý đặng. Quách Phác dẫu còn cũng khó trông. Nguyên văn: phong thủy nhân giân bất khả vô, toàn bằng âm chất lưỡng tương phù. Phú quý nhược tùng phong-thủy đắc. Tái sanh Quách Phát dã nan đồ.

44) Phật bảo A-nan: “chúng sanh đời mạt pháp, bởi các tà sư mê hoặc, bảo giết hại chúng sanh cúng tế nếu muốn cứu nguy ách. Kẻ giết hại đã đắc tội, và thiên thần địa thần kia tất cũng chẳng dám thọ nhận. Vì vậy nên ta nay rộng diễn nói chương cú quán đảnh, chân thật chú thuật, để hóa độ các vị chưa tin, chẳng liễu giải đạo vậy. Ông nên lưu bố tuyên truyền, chớ để cho hủy thất”.

45) Chẳng được tập học sách vở ngoại đạo trừ trí lực có thừa, vì muốn biết sự sâu cạn của nội giáo và ngoại giáo thì có thể lội qua vượt qua, song cũng đừng sanh ý tưởng tập học.

46) Chẳng được học tập thi từ, không được để tâm luyện tập viết chữ cầu cho khéo, chỉ cần viết chép ngay ngắn là đủ.

47) Đối với kinh điển cũng như đối với Phật, không được giỡn cười. Không được mượn kinh của người để coi mà không trả, lại không gia tâm quý trọng để đến nỗi hư rách.

48) Phàm vào cửa chùa, không được đi chính giữa, phải duyên theo bên trái bên phải mà đi. Duyên bên trái thì bước chân trái trước, duyên bên phải thì bước chân phải trước.

49) Nếu lễ lạy Tam-bảo, thường niệm tưởng Tam-bảo chỉ đồng một thể. Giác ngộ rồi thì tất cả pháp gọi là Phật-bảo. Các pháp được giác ngộ đó gọi là Pháp-bảo, những người học pháp của Phật đó gọi là Tăng-bảo. Thời đủ biết tất cả phàm, thánh đều là đồng một thể không hai vậy.

50) Tự là Từ vậy, là nơi nghị sự. Từ là nơi thuộc về việc của nội phủ, cho nên đấng thiên-tử có cửu tự. Hán Minh Đế năm Vĩnh Bình thứ 10, hai vị pháp sư Thiên-trúc Ma-đằng & Pháp-lan dùng bạch mã để chở kinh tượng đến Lạc-dương, được sắp xếp đi thẳng về an trí ở Hồng Lô Tự. Qua năm kế thì sắc lệnh bên ngoài Ủng Môn kiến lập riêng một cái Tự khác. Dùng Bạch Mã làm tên, chính là để chẳng quên cái gốc vậy, lại gọi tên là Tự.

51) Phật nói: nhiễu tháp có năm phước đức: (1) đời sau được thân tướng đoan chính. (2) được tiếng tăm tốt. (3) được sanh lên cõi trời. (4) được sanh trong nhà vương-hầu. (5) được đạo Niết-bàn.

52) Khi vào điện đường, Luật dạy phải đủ năm phép: (1) Cần có từ tâm cung kính tôn trọng người. (2) Nên thấp mình khiêm tốn như khăn lau bụi. (3) Phải biết khi ngồi, khi đứng dậy, khi cúi ngước cần phải theo thời. (4) Ở trong chúng không được nói lung tung. (5) Đối với những việc không thể nhẫn được cũng phải giữ im lặng.

53) Khi xem kinh, phải vững mình ngồi ngay ngắn, lắng lòng nghiêm tịnh quán xét, chẳng được phát tiếng. Vững mình ngồi ngay thì niệm chánh, lắng lòng thì lý sanh vậy.

54) Nên quý tiếc đồ vật của tăng-chúng. Đại luật nói: “Giữ gìn đồ vật của thường-trụ của chúng-tăng như giữ gìn tròng mắt của chính mình. Thiên Hành Hộ nói: “Lỡ có làm tổn hao các đồ vật của thường-trụ Tam-bảo, thì nên đền trả lại.

55) Đời nay chẳng biết tiếc của, đời sau không có để sài, việc đời còn vậy. Huống chi là vật của thường-trụ chúng tăng, mà chẳng gia tâm quý tiếc giữ gìn hay sao!?

56) Kinh Ôn Thất nói: tắm rửa có thể trừ được bảy thứ bệnh: (1) thân tứ đại nhẹ nhàng. (2) trừ chứng phong khí. (3) trừ chứng tê thấp. (4) trừ bệnh lạnh rét. (5) trừ bệnh nhiệt khí. (6) trừ nhơ nhớp. (7) thân được sạch, mắt được tỏ. Song cũng không nên tắm thường, trừ khi có nhân duyên như làm việc bụi đất, v.v…

57) Nằm phải nằm nghiêng hông bên phải gọi là cách ngủ tốt lành, chẳng được nằm sấp, cùng nằm nghiêng hông bên trái.

58) Đại luật nói: có năm hạng người hỏi pháp đều không nên vì họ mà thuyết: (1) thí vấn: hỏi thử. (2) vô nghi vấn: không nghi mà cố hỏi. (3) bất vi hối sở phạm cố vấn: không vì mình dạy bảo chỗ quấy, chẳng vì biết hối lỗi mà cố hỏi. (4) bất ái ngữ cố vấn: không phục lời nói của mình nên cố hỏi, hỏi cho ra lẽ. (5) cật nạn cố vấn: cố hỏi để bắt bẻ làm khó. Những người thưa hỏi như trên đều không nên đáp.

59) Nếu vì họ mà thuyết Phật-pháp, trước phải khiến họ sanh tâm kính tin thâm sâu, phước huệ tăng trưởng, vượt thoát luân hồi, cũng tức là độ cha mẹ vượt ra khỏi biển khổ sanh tử luân hồi vậy.

60) Chẳng được ngó liếc hai bên, chẳng được nói chuyện tạp, nếu cùng với người nữ nói chuyện chẳng được thấp giọng nói thầm, chẳng được nói nhiều. Chẳng được trá hiện oai nghi, giả trang thiền tướng cầu người cung kính. Chẳng được vọng thuyết Phật-pháp, loạn đáp lời hỏi của người, tự khoe mình đa văn, cầu người cung kính.

61) Chẳng được nói lỗi lầm trong tăng-chúng, phàm là người chưa phải bực thánh-triết, mấy ai không lỗi. Ngài Ca-diếp còn đứng lên múa, vua Nghiêu Thuấn còn mắc các bệnh. Ta không có con mắt-huệ đâu thể xét biết kia phải quấy thế nào, đức độ chúng-tăng lớn như biển, Phật còn khen ngợi, nếu ta chỉ trích, tự mắc khổ báo vậy.

62) Đi khất thực có được 10 điều lợi: (1) để nuôi mạng sống thuộc về lợi mình, chẳng thuộc lợi người khác. (2) Người cho ta ăn, phải tưởng làm sao ngôi Tam-bảo được bền lâu vậy sau mới ăn. (3). Thường sanh lòng thương xót. (4) thuận theo lời Phật dạy. (5) Dễ no và dễ sống. (6) Bẻ gãy tâm kiêu mạng. (7) Được căn lành. (8) khiến những người lành nhìn thấy liền bắt chước. (9) Chẳng cùng nam nữ gần nhau. (10) Thứ lớp khất thực, sanh tâm bình đẳng.

63) Kinh Phật Thoại nói: “Tỳ-kheo ở nơi tụ-lạc, dầu nghiệp thân khẩu tinh tấn chư Phật vẫn thường lo. Tỳ-kheo ở núi rảnh việc nằm không, chư Phật thảy đều mừng”. Nên cổ đức nói: “Tăng trụ thành hoàng Phật tổ ha. Tiên-hiền đô thị ẩn nham a. Sơn-tuyền lưu xuất nhân gian khứ. Thanh-thủy y nhiên thành trược ba”. Nghĩa rằng: ” Tăng ở thị thành Phật-tổ la. Tiên-hiền quý vị ở non mà. Nguồn trong trên núi nhân gian chảy. Thanh thủy trở thành sông đục ra”.

64) Không được kèo nài mắc rẻ, cần thuận theo giá cả, chẳng nên xin bớt làm kém hao của người. Chẳng nên trả giá mắc, làm lãng phí của tín thí và thường trụ.

65) Đã hứa mua vật của người trước, người sau tuy có rẻ hơn cũng đừng bỏ kia mua đây khiến cho người chủ trước sân giận, lại đó chẳng phải tâm của người tu đạo.

66) Phải cẩn thận chớ bảo lãnh những người mắc nợ. Nếu ta bảo lãnh tội lỗi, nợ nần của người kia, về sau lại trở thành oán trách phỉ báng, đến nỗi ta phải mang lấy ương lụy vậy.

67) Phàm khi ra vào qua lại trước phải bạch thầy. Cho đến việc lớn, hoặc đi du phương, hoặc đi nghe kinh, hoặc đi nhập chúng, hoặc đi giữ vườn, hoặc muốn xây dựng việc chùa chiền, v.v… đều phải bạch thầy, chẳng được tự làm theo ý mình.

68) Đi xa phải nương bạn lành. Kinh Tâm Địa Quán nói: “Hết thảy bồ-tát tu thắng đạo, có bốn pháp yếu cần phải nên biết. Gần gũi bạn lành là một. Biết lắng nghe chánh pháp là hai. Như lý tư duy quán sát là ba. Như pháp tu hành chứng quả là bốn. Mười phương tất cả các bậc đại thánh đều tu theo bốn pháp yếu này mà chứng được bồ-đề”.

69) Kinh Nhân Quả nói: “Bạn lành có ba việc cần yếu. (1) thấy mình có lỗi liền biết can gián cho nhau. (2) Thấy mình có việc tốt liền hết lòng sanh tâm tùy hỷ. (3) Lúc gặp khổ nạn không rời bỏ nhau”.

70) Người xưa khi tâm địa chưa thông thì chẳng ngại đường xa nghìn dặm cầu thầy. Phải vì tìm thầy học đạo, quyết dứt đường sanh tử, chớ nên vì xem non ngắm biển, chỉ tính việc ngao du rộng xa để khoe khoang với người.