Lời nói thốt ra thời là Kinh, làm việc có quy tắc thời là Pháp. Vì vậy: “Lời nói và việc làm là then chốt của người quân tử, là gốc lớn của việc sửa mình”, động đến trời đất, cảm đến quỷ thần, thật đáng kính vậy.

Nếu nói mà chẳng làm, thà rằng đừng nói. Làm mà chẳng nói, thà rằng đừng làm. Phát ngôn phải lo đến hậu quả của nó, làm việc phải xét ở chỗ che đậy của nó. Bởi thế, bậc Tiên Hiền cẩn thận ở lời nói, lựa chọn ở việc làm. Phát ngôn chẳng những để hiển bày đạo lý, mà còn khai mở giáo hoá cho người học chưa ngộ. Làm việc không phải để chứng tỏ cái hay riêng của mình, mà là lấy đó để dạy bảo cho người học chưa thành đạt. Vậy nên phát ngôn cần có phép tắc, lập hạnh cần có lễ nghĩa. Nhờ đó mà mỗi khi nói ra lời gì chẳng có gặp vạ, mỗi khi làm việc gì chẳng bị chuốc nhục vậy.

Hữu giải vô hành tăng trưởng tà kiến. Hữu hành vô giải tăng trưởng vô minh.

(Có hiểu mà không thực hành chỉ là thêm lớn tà kiến, có thực hành mà không thấu hiểu chỉ là thêm lớn vô minh).

Hối Đường Tâm thiền sư nói: khi ta mới nhập đạo, thường mắc cái tánh tự cho mình là phải. Đến khi gặp được Hoàng Long tiên sư, ta liền xét lại những sự việc thông dụng hằng ngày, thì mới thấy mâu thuẫn với đạo lý quá nhiều. Sau đó ta tận lực dụng tâm không phân biệt làm việc trong suốt ba năm, chẳng quản ngại khi trời rét buốt hay khi nắng gắt. Ta vẫn giữ vững ý chí không dời đổi, nhờ vậy mà từ đó trở đi mới được tới chỗ sự lý viên dung. Nên bây giờ tất cả mọi cử động, dù tằng hắng hay chuyển động tay chân cũng đều phù hợp với ý Tổ Sư từ Tây Trúc lại.

Người cầu lợi không thể đi cùng với đạo, người cầu đạo không thể đi cùng với lợi. Người xưa không phải không thể làm kiêm cả lợi và đạo. Bởi lẽ cái thế nó không cho phép làm được như vậy.

Tu Đạo và danh lợi không thể chung cùng dung hợp với nhau. Nếu cùng một lúc mà có thể thực hành được cả lợi và đạo, thì những kẻ buôn đứng bán ngồi, buôn thịt bán rượu, hay những kẻ buôn thúng bán mẹt nơi hang cùng ngõ hẻm cũng đều có thể làm được. Nếu thật sự là vậy thì người xưa đâu cần phải bỏ giàu sang, quên công danh, nguội tâm lắng trí, đem thân nương náu trong rừng vắng, uống nước lã ăn trái cây cho đến trọn đời vậy ư!? Ví có người cho rằng: lợi và đạo đều có thể làm chung cùng với nhau được, mà vẫn không trái, không chướng ngại lẫn nhau. Lời này cũng ví như người lấy xăng dầu mà tạt vào bếp than hồng, tất nhiên không thể nào làm cho lửa tắt được vậy!

Tuyết Đường thiền sư

Tuyết Đường thiền sư là người nhân từ trung hậu khoan thứ, tôn bậc hiền đức, kính kẻ tài năng. Những lời đùa cười thô tục ít khi thốt ra ngoài miệng. Tính không nghiêm khắc, cũng không giận dữ. Ngay cả lúc đi lại cũng rất mực ngay thẳng tinh khiết.

Ngài thường nói: sự học đạo của cổ nhân, đối với ngoại vật thản nhiên không còn gì ham muốn. Cho đến quên cả quyền hành thế vị, bỏ cả thanh danh tài sắc,… được vậy thì những việc tưởng chừng khó bỏ, dù chẳng cần gắng sức vẫn hay bỏ được một cách dễ dàng. Người học đạo ngày nay, thì làm tất cả các tài nghệ, chẳng nề hà việc chi, đó là vì cớ sao? Chỉ vì chí chẳng bền, việc không chuyên nhất, ví như có làm được việc gì đi chăng nữa thì cũng chỉ là việc tắc trách mà thôi vậy.

Đức Phật khuyên chúng ta không nên làm ác, và hại người hiền, vì người hiền thì không thể hại được mà họa hại sẽ trở lại diệt mình.

Cổ đức rằng: Trời gây tai họa còn có thể tránh được, chứ tự mình gây ra họa thì không thể tránh được. Kinh 42 chương có nói: kẻ ác hại người hiền như người hướng lên trời phun nước miếng, nước miếng chẳng tới trời mà rơi trở lại mặt mình. Ngược gió tung bụi, bụi chẳng đến người mà bay trở lại dính tự thân. Người hiền không bị nguy hại, mà hoạ sẽ quay lại hại chính mình.

Người giầu sang thì đưa tiễn nhau bằng của cải, người nhân nghĩa thì đưa tiễn nhau bằng lời nói.

Thánh nhân nói: người thông minh sáng suốt ở đương thời, mà lại hay gần kề với cái chết, là vì họ thích nghị luận về người. Người biện bác cao rộng, mà hay bị nguy hại đến thân, là vì họ hay bới cái xấu của người. Xưa nay những người có tài năng trí tuệ, họ phải táng thân mất mạng rất nhiều, chỉ vì sự phỉ báng dèm pha của người đời mà mắc họa. Tìm những người cố công cùng với đời chìm nổi, mà hay bảo toàn được thân mạng thì rất ít vậy.

Người học đạo cần có đại lượng, cô đọng sâu xa, tiết nghĩa hơn người. Trong công việc lỡ có bị quở trách không thoả đáng đi nữa thì cũng chỉ cần vâng vâng dạ dạ, cung kính nghe lời dạy bảo, được như thế thì về sau mới tác thành đại khí.

Người ra làm đạo thì cần phải để tâm, làm việc phải công chính. Không nên cho ở mình là phải, ở người là trái, thời sự yêu ghét dị đồng không để ở nơi tâm. Chỗ tiến của người xưa thì có đức có mệnh, nên đợi ba lần mời thỉnh mới tiếp nhận ra ứng phó, nhưng chỉ cần một lần cáo từ thì lui gót. Chỗ tiến của người thời nay, thì cậy vào thân thế và quyền lực. Người biết tiến thoái đúng lúc đúng thời mà không bỏ mất điều chính yếu, thì đó mới là người hiền đạt.

Người học đạo phải nghĩ đến nghiệp báo, hoạn nạn, khổ đau, bệnh chết mà phải sớm lo tu tập để dự bị phòng ngừa.

Người xưa luôn luôn nghĩ tới cái đại hoạn của sanh tử, nên sớm hết lòng tu tập, lấy sự thành tựu đạo nghiệp để hoá giải, nên sự nghiệp mới lớn lao, tiếng thơm mới xa rộng. Còn người đời nay lại bảo: cầu đạo là việc viễn vông không thiết đáng, cầu tiền tài danh lợi mới là thực tế. Do đó họ thi nhau tập tánh đua đòi, mưu tính cạnh tranh. Chỉ cầu mong những việc có lợi trước mắt, hoài bão tính kế toàn chuyện nhỏ nhen. Nên đến cả việc trù liệu kế hoạch cho một năm cũng chẳng chịu làm, huống nữa là lo đến việc lớn sanh tử. Vì thế người học đạo ngày càng quê hèn, chốn Tùng Lâm ngày càng hoang phế, phép tắc ngày càng sơ sài. Ta phải lấy đó làm gương soi chung vậy.

Người học đạo giữ được ý chí thuần nhất trong việc tu tập của mình thì không quản ngại chi sự khen chê huỷ báng.

Con người có lúc bị hủy nhục, nên phải thuận theo chịu đựng, há lại nông nổi nghe lời người ta nói, vội trình bày bừa bãi chỗ thấy biết hạn hẹp của mình. Đại khái, kẻ phỉnh nịnh có nhiều loại, gian dối có nhiều cách. Kẻ mang tâm dối trá bất bình thì thích buông thả tâm tư. Kẻ tạo mối nghi ngờ ghen ghét thì hay bỏ hẳn công luận. Nhưng khi ta đã biết chỗ dùng việc của ta là hoàn toàn phải. Sự huỷ báng lẽ nhiên là tự ở kẻ khác, thì ít lâu sau việc tự nó sẽ rõ ràng, không cần phải biện bạch, và cũng bất tất đòi hỏi lẽ phải ở ta mà bới móc đụng chạm đến người khác. Được như thế mới là người học đạo chân chánh.

Người tu hành chân chính phải tập thích ứng với hoàn cảnh thuận nghịch để làm phương tiện khéo léo cho sự giáo hóa.

Gần đây, người tu hành hay bị đắm vào hai thứ duyên, nên phần nhiều kiến thức trí tuệ chẳng minh, bị hai thứ gió nó lôi cuốn làm mất pháp thể. Một là ứng với nghịch duyên, đụng chạm nhiều với gió suy, thì tinh thần sa sút. Hai là ứng với thuận duyên, đụng chạm nhiều với gió lợi, thì sanh tâm cống cao. Một khi đã bị hai thứ gió này nó làm lay động thì sự yêu ghét giao nhau ở tâm, sự mừng giận hiện trên nét mặt, nên đến nổi pháp môn bị chuốc nhục, kẻ hiền đạt bị hiềm chê. Duy bậc trí giả mới hay chuyển nó làm cái phương tiện nhiếp hóa, để dạy cái đẹp cái tốt cho kẻ hậu lai.