Category: Daily Dharma

Tâm nhân nghĩa đạo đức thì thánh hay phàm cũng đều đầy đủ không khác, chỉ khác nhau ở chỗ đạt được hay không đạt được mà thôi.

Đạo đức nhân nghĩa không phải để dành riêng cổ nhân, mà người đời nay cũng có phần, nhưng vì trí thức của họ chẳng sáng tỏ, học vấn của họ chẳng sâu rộng, căn khí không thanh tịnh, chí khí lại hẹp kém, thực hành thì bất lực, lại bị thanh sắc nó di chuyển, nên họ chẳng tự giác được đó vậy. Bởi lẽ nếu họ chỉ nương vào vọng tưởng tình niệm, tích tụ ngày một dày đặt, nay muốn trừ khử nó ngay trong một lúc tất không phải dễ, nên họ chẳng tới được cái địa vị của cổ nhân.

Người học đạo cần có tánh chân thật, ngay thẳng, chẳng chạy theo thái thế nhân tình, không ham thị hiếu, làm việc không thảng thốt, có đủ biện chứng, thanh tịnh trang nghiêm, cung kính cẩn trọng, trước sau đều lấy danh tiết để tự lập, học theo tác phong của cổ nhân.

Ở trên cương vị làm chủ một ngôi chùa, quý ở chỗ noi chí tiết tháo, làm hạnh thanh tịnh, giữ lòng tin lớn để tiếp đãi người tu hành từ các nơi. Nếu có một mảy may ý nghĩ hẹp hòi, lệch lạc tự dối mình mà không chịu bỏ, liền bị kẻ tiểu nhân dòm ngó, dù cho có được đạo đức như cổ nhân, thì người tu học cũng sẽ nghi ngờ mà chẳng tin vậy.

Muốn thay đổi cái tệ của tiền nhân, không thể bỏ ngay một lúc được. Nên phải nương vào từng việc nào đó mà thay đổi, để kẻ tiểu nhân chẳng ngờ vực, thời mọi người không oán hận.

Người Trụ Trì có ba bí quyết. 

  1. Thấy rõ sự việc. 
  2. Thực hành theo. 
  3. Quả cảm quyết đoán.

Ba điều này mà để thiếu một, thì thấy sự việc không được rõ ràng, lại bị kẻ tiểu nhân khinh nhờn, tất ngôi Trụ Trì sẽ không được chỉnh đốn vậy.

Cái chí của con người cần phải quy về một, phải giữ cho bền lâu chớ có dời đổi, thì một ngày kia ắt biết được chỗ quy hướng của Diệu Đạo.

Cái học của thánh Hiền, không thể thành tựu ngay được mà cần phải tích lũy. Cái yếu của việc tích lũy, then chốt là ở chỗ chuyên và cần: phải trừ bỏ lòng thị hiếu, thực hành pháp không biết mỏi, về sau mới mở mang rộng rãi ra, thì có thể biết được cái diệu trong thiên hạ.

Chức vụ của trưởng lão có trách nhiệm là phải giữ gìn mối đạo, thực hành phần đạo đức của mình, chẳng phải chỉ lạm dụng cái tên đó vậy.

Cái chức của trưởng lão là cái khí cụ của đạo đức, bậc tiên-thánh kiến tạo Tùng Lâm, đặt ra kỷ cương, lập ra danh vị, tuyển chọn người tu hành có đạo đức để gánh vác cái chức vụ đó. So với người giữ gìn đạo đức, mặc dù trong lành cùng chết già nơi lò gạch, nhưng chẳng bằng người hành đạo lãnh chúng ở chốn Tùng Lâm. Há chẳng phải là nhờ người khéo giữ cái chức trưởng lão, thời đạo đức của Phật tổ mới còn được tồn tại đó sao.

Truyền trì đạo pháp quý nhất ở chỗ chân thật với hết thảy. Nếu không giữ lòng thành thật, chỉ chuộng lừa dối hư danh, đối với đạo lý thời chẳng có lợi ích gì vậy.

Phân biệt điều tà chánh, gạt bỏ mọi vọng tình, đó là cái thật trị tâm. Biết nhân quả, rõ tội phúc, đó là cái thật của tiết tháo. Hoằng đạo đức, tiếp thập phương lui tới, đó là cái thật của trụ trì. Lượng tài năng, giao phó việc, đó là cái thật dùng người. Xét ngôn hạnh, quyết định nên hay không nên, đó là cái thật cầu hiền. Vì thế cái tiết tháo của con người cần nhất ở chỗ thành thật. Nếu có thể giữ một mực như thế không biến đổi, thì dẫu rằng việc khó khăn đến mấy cũng có thể nhất chí được.

Phong cách tiếp dẫn đồ chúng của các bậc Tổ sư, chúng ta không thể dùng cách nhìn của phàm phu mà có thể thấu hiểu hết được.

Ngũ Tổ Diễn, khi thấy đồ chúng mà những ai là người có tiết nghĩa, có thể lập thân được, ở trong chốn trượng đường, dù họ có nghiêm nghị khuôn phép, Tổ cũng không hề ban lời khen thưởng hay lộ sắc mặt yêu thương. Tổ chỉ xét đến những kẻ thiên tà, xiểm nịnh, nhìn vào những chỗ làm hèn mạt không thể dạy bảo được của họ, lại tặng lời an ủi khích lệ. Người đời đối với cách ứng xử này đều không thể đo lường được. Ôi ! đó chính là chỗ thủ xả của Tổ đã sẵn có đường lối vậy.